66. Đại Giá Như Tây Hồi Loan Hoàn Kinh Chúc Hỗ Sớ
Nguyên văn:
大駕如西回鑾完經祝嘏疏
伏以
佛心不遠、求之者水月澄圓、聖境非遙、懇之者香雲赴感、虔伸叩謝、式表齋誠。拜疏爲
大南國都城妙諦寺奉
佛修香設供禮謝完經祝嘏延齡集福迎祥事。今弟子...等、惟日仰干
大覺之尊、俯鑒微誠之懇、恭祝
當今啟定皇帝聖壽萬歲萬萬歲。
言念、弟子等忝入禪流、預微職分、感日谷春崖、而遠透向陽葵、雨榖之微誠、曩焉駕幸于西歐、憑大造而壽山恭祝、今也回鑾于南國、仗鴻慈而福海維寧、知恩豈敢忘恩、有願須當還願、謹涓本月是日、肅清梵宇、焚戒定之眞香、嚴淨齋儀、獻伊蒲之妙味、諷誦大乘三寶經、加持聖無量壽神咒、繼以蒙山一筵、放生一筵、頂禮金容佛號、集此良因、祈增福果。今則上供、完滿疏章、和南拜奏。
南無十方常住三寶諸佛尊法賢聖僧座下。
南無中天敎主調御丈夫本師釋迦牟尼文佛金蓮座下。
南無東方敎主藥師琉璃光如來青蓮座下。
南無七倶胝佛母大準提菩薩金蓮座下。
南無大悲靈感觀世音菩薩白蓮座下。
筵奉、三乘聖哲、四府王官、護法諸天、伽藍眞宰、歷代祖師、諸位善神、同垂鑒格、協俾休禎。
伏願、高明洞鑒、草埜微忱、俾帝道以遐昌、保皇宮而康健、高大比如山如阜、永膺五福之箕疇、厚祉延而子而孫、長享億年之寶祚、慶霑家國、澤及臣民、凡居四序之中、悉獲萬全之庇。寔賴佛聖扶持之大力也。謹疏。
啟定七年、歲次壬戌八月初一日、弟子等虔誠和南上疏。
Phiên âm:
ĐẠI GIÁ1 NHƯ TÂY2 HỒI LOAN HOÀN KINH CHÚC HỖ SỚ
Phục dĩ
Phật tâm bất viễn, cầu chi dã thủy nguyệt trừng viên; Thánh cảnh phi diêu, khẩn chi dã hương vân phó cảm; kiền thân khấu tạ, thức biểu trai thành.
Bái sớ vị: Đại Nam Quốc Đô Thành Diệu Đế Tự phụng Phật tu hương thiết cúng lễ tạ hoàn kinh chúc hỗ diên linh tập phước nghinh tường sự. Kim đệ tử … duy nhật ngưỡng can Đại Giác chi tôn, phủ giám vi thành chi khẩn.
Cung chúc: Đương Kim Khải Định Hoàng Đế Thánh thọ vạn tuế vạn vạn tuế.
Ngôn niệm: Đệ tử đẳng thiểm nhập Thiền lưu, dự vi chức phận; hoặc nhật cốc xuân nhai nhi viễn thấu Hướng Dương3 quỳ, vũ cốc chi vi thành, nẵng yên giá hạnh vi Tây Âu, bằng đại tạo4 nhi thọ sơn cung chúc; kim dã hồi loan vu Nam Quốc, trượng hồng từ5 nhi phước hải duy ninh; tri ân khởi cảm vong ân, hữu nguyện tu đương hoàn nguyện; cẩn quyên bổn nguyệt thị nhật, túc thanh Phạm vũ, phần Giới Định chi chơn hương; nghiêm tịnh trai nghi, hiến Y Bồ6 chi diệu vị; phúng tụng Đại Thừa Tam Bảo Kinh, gia trì Thánh Vô Lượng Thọ Thần Chú,7 kế dĩ Mông Sơn nhất diên, Phóng Sanh nhất diên, đảnh lễ kim dung Phật hiệu, tập thử lương nhân, kỳ tăng phước quả. Kim tắc thượng cúng hoàn mãn sớ chương, hòa nam bái tấu:
Nam mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Chư Phật Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng tòa hạ.
Nam Mô Trung Thiên Giáo Chủ Điều Ngự Trượng Phu Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật Kim Liên tòa hạ.
Nam Mô Đông Phương Giáo Chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Thanh Liên tòa hạ.
Nam Mô Thất Câu Chi Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề Bồ Tát Kim Liên tòa hạ.
Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát Bạch Liên tòa hạ.
Diên phụng: Tam Thừa Thánh Triết, Tứ Phủ Vương Quan, Hộ Pháp Long Thiên, Già Lam Chơn Tể, Lịch Đại Tổ Sư, chư vị thiện thần, đồng thùy giám cách, hiệp tỷ hưu trinh.
Phục nguyện: Cao minh động giám, thảo dã vi thầm; tỷ đế đạo dĩ hà xương, bảo Hoàng Cung nhi khang kiện; cao đại tỷ như sơn như phụ, vĩnh ưng Ngũ Phước chi cơ trù; hậu chỉ diên nhi tử nhi tôn, trường hưởng ức niên chi bảo tộ; khánh triêm gia quốc, trạch cập thần dân; phàm cư Tứ Tự chi trung, tất hoạch vạn toàn chi tí. Thật lại Phật Thánh phò trì chi đại lực dã. Cẩn sớ.
Khải Định thất niên, tuế thứ Nhâm Tuất bát nguyệt sơ nhất nhật, đệ tử đẳng kiền thành hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
SỚ CÚNG HOÀN KINH CHÚC THỌ
HOÀNG ĐẾ ĐI TÂY TRỞ VỀ
Cúi nghĩ:
- tâm gần lắm, cầu tâm ấy trăng nước lắng trong; Thánh cảnh không xa, khẩn thiết ấy mây hương cảm ứng; cúi đầu vái tạ, biểu trọn tấc thành.
Lạy Sớ tâu: Việc Chùa Diệu Đế ở Đô Thành, nước Đại Nam, thờ Phật dâng hương cúng lễ tạ hoàn kinh chúc thọ thêm tuổi, gom phước đón lành. Nay đệ tử …, hôm nay ngưỡng trông Đại Giác chí tôn, cúi chứng tấc thành khẩn thiết.
Kính chúc: Đương Kim Hoàng Đế Khải Định Thánh thọ vạn tuế vạn vạn tuế.
Nép nghĩ: Đệ tử … thẹn vào Thiền môn, làm chức phận nhỏ; cảm tháng ngày thoi đưa, mà xa tít mặt trời cao; mưa lúa ấy tâm thành, trước kia đại giá đi Tây Âu, nhờ trời đất mà trường thọ cung chúc; nay lúc trở về nơi Nam quốc, nhờ đại ân mà biển phước ổn yên; biết ơn sao dám quên ơn, có nguyện phải nên hoàn nguyện; chọn đúng ngày nầy tháng đó, thanh tịnh Phạm vũ, xông Giới Định ấy chơn hương; trong sạch nghi chay, cúng món chay ấy vị tuyệt; trì tụng kinh Tam Bảo Đại Thừa, trì thêm Thánh Vô Lượng Thọ Thần Chú, tiếp thêm Mông Sơn một đàn, Phóng Sanh một đàn, đảnh lễ dung vàng hiệu Phật, góp nhân lành nầy, cầu tăng phước quả. Nay tất dâng cúng, hoàn mãn sớ chương, kính thành tâu lạy:
Kính lạy Ba Ngôi Báu thường trú mười phương chư Phật, tôn Pháp hiền thánh Tăng trên tòa sen chứng giám cho.
Kính lạy đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, đấng Điều Ngự Trượng Phu, giáo chủ trung thiên, trên tòa sen vàng chứng giám cho.
Kính lạy đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, giáo chủ phương Đông, trên tòa sen xanh chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Thất Câu Chi Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề, trên tòa sen vàng chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Đại Bi Linh Cảm Quan Thế Âm, trên tòa sen trắng chứng giám cho.
Cùng xin: Chư Thánh trong Ba Thừa, vương quan của Bốn Phủ; Hộ Pháp trời rồng, già lam chơn tể, các đời Tổ sư, các vị thiện thần, cùng thương chứng giám, giúp khiến tốt lành.
Cúi mong: Cao minh soi xét, tấc dạ quê mùa; khiến Đế đạo được hưng long, giúp Hoàng cung thêm khỏe mạnh; cao lớn sánh như đồi như núi, mãi được Năm Phước ấy lâu dài; dày phúc ấm với cháu với con, lâu hương ức năm ấy ngôi báu; vui khắp nhà nước, phước đến thần dân; phàm sống ở trong bốn mùa, thảy được vạn toàn che chở; thật lạy Phật Thánh phò trì với năng lực lớn. Kính dâng sớ.
Khải Định thứ 7, ngày mồng một tháng 8 năm Nhâm Tuất (1922). Đệ tử … chí thành kính cẩn dâng sớ.
Chú thích:
- Đại giá (大駕): có mấy nghĩa chính. (1) Khi Hoàng Đế xuất hành, quy mô đội nghi trượng vô cùng to lớn, gọi là đại giá. Từ này được dùng để thể hiện sự quy mô, hình thức lớn hơn cả pháp giá (法駕), tiểu giá (小駕). Như trong tác phẩm Độc Đoán (獨斷) của Thái Ung (蔡邕, 132-192) nhà Hán có đoạn: “Thiên tử xuất, xa giá thứ đệ vị chi lỗ bạ, hữu đại giá, hữu tiểu giá, hữu pháp giá; đại giá tắc công khanh phụng dẫn, đại Tướng Quân tham thừa, Thái Bộc Khanh, thuộc xa bát thập nhất thừa, bị thiên thừa vạn kỵ (天子出、車駕次第謂之鹵簿、有大駕、有小駕、有法駕、大駕則公卿奉引、大將軍參乘、太僕御、屬車八十一乘、僃千乘萬騎, khi thiên tử xuất hành, thứ tự các xa giá được gọi là lỗ bạ, có đại giá, có tiểu giá, có pháp giá; đại giá thì công khanh dẫn theo, đại Tướng Quân cùng ngồi, Thái Bộc Khanh thuộc cỗ xe tám mươi mốt, có đủ ngàn cỗ xe, vạn thớt ngựa).” (2) Chỉ chung cho các xa giá của thiên tử. (3) Chỉ Hoàng Đế. Như trong Tấn Thư (晉書), truyện Trung Nghĩa (忠義傳), có câu: “Đại giá thân chinh, dĩ chánh phạt nghịch (大駕親征、以正伐逆, Hoàng Đế thân chinh, để trừng phạt nghịch).” (4) Từ kính xưng đối với tha nhân.
- Ngày 20 tháng 5 năm 1922 (nhằm ngày 24 tháng 4 năm Nhâm Tuất, Khải Định thứ 7), vua Khải Định sang Pháp dự Hội chợ thuộc địa ở Marseille. Đây là lần đầu tiên một vị vua triều Nguyễn ra nước ngoài. Chuyến đi công du của nhà vua đã làm dấy lên nhiều hoạt động của người Việt Nam yêu nước nhằm phản đối ông. (Theo nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/Khải_Định)
- Hướng dương (向陽): có hai nghĩa. (1) Đối diện, hướng về phía mặt trời. Như trong Nhàn Cư Phú (閑居賦) của Phan Nhạc (潘岳, 247-300) nhà Tây Tấn có câu: “Nhương Hà y âm, Thời Hoắc hướng dương (蘘荷依陰、時藿向陽, rau Nhương Hà nương bóng râm, dâu Thời Hoắc hướng mặt trời).” (2) Tỷ dụ việc thọ nhận ơn ngộ. Có loại Hướng Nhật Quỳ (向日葵), hay Hướng Dương Quỳ (向陽葵), một giống quỳ một rò (nhánh) mọc thẳng, vào khoảng cuối Thu đầu Hạ nở hoa vàng. Tính nó thường cứ chầu hướng về mặt trời, nên có tên gọi như vậy. Người ta thường dùng làm tiếng để tỏ lòng kẻ dưới hướng mộ người trên.
- Đại tạo (大造): có hai nghĩa. (1) Công lao lớn, ân đức lớn. (2) Chỉ trời đất, đại tự nhiên. Như trong bài thơ Đại Tạo (大造) của Hoàng Cảnh Nhân (黃景仁, 1749-1783) nhà Thanh có câu: “Đại tạo thị quần sanh, các như bão trung nhi (大造視群生、各如抱中兒, trời đất xem chúng sanh, như ôm con trong lòng).”
- Hồng từ (鴻慈): đại ân, ơn lớn. Như trong bài Nghĩ Lý Hồng Chương Trần Miêu Sự Triệp Tử (擬李鴻章陳苗事摺子) của Vương Khải Vận (王闓運) có câu: “Mi khu khỏa giáp, mạc đáp hồng từ (糜軀裹甲、莫答鴻慈, nát thân bọc giáp, chẳng đáp ơn sâu).” Hay trong Tứ Minh Nhân Nhạc Dị Thuyết Tùng Thư (四明仁岳異說叢書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 56, No. 948) lại có đoạn: “Phục vọng hồng từ, khúc tứ tinh sát, hạnh thậm hạnh thậm (伏望鴻慈、曲賜精察、幸甚幸甚, cúi mong đại ân, xét soi ban bố, may thay may thay).”
- Tức Y Bồ soạn (伊蒲饌): tức thức cúng chay, đồ chay, cỗ chay; gọi tắt là Y Bồ (伊蒲). Như trong bài thơ Phong Lãnh Thượng Nhân Phụng Mẫu Cư Sơn Trí Thư Hữu Nhân Khất Thi Vi Thọ (崶嶺上人奉母居山致書友人乞詩為壽) của Lý Trường Tộ (李長祚, ?-?) nhà Thanh có câu: “Y Bồ đồng thục thủy, thanh tịnh phụng từ thân (伊蒲同菽水、清凈奉慈親, món chay cùng lễ mọn, thanh tịnh dâng từ thân).” Trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1, văn sớ Phật Thành Đạo Nhật (佛成道日), có giải thích rằng: “Trai cúng thực viết Y Bồ soạn, Hậu Hán Sở Vương nghệ khuyết dĩ kiêm thục tội, chiếu báo viết: ‘Vương háo Hoàng Lão chi ngôn, thượng Phù Đồ chi giáo, hoàn kỳ thục dĩ trợ Y Bồ Tắc tang môn chi soạn’ (齋供食曰伊蒲饌、後漢楚王詣闕以縑贖罪、詔報曰、王好黃老之言、尚浮屠之敎、還其贖以助伊蒲塞桑門之饌, thức cúng chay gọi là Y Bồ soạn, Sở Vương nhà Hậu Hán vào cung lấy lụa dâng xin chuộc tội, chiếu chỉ viết rằng: ‘Vua thích lời dạy của Hoàng Lão [Hoàng Đế và Lão Tử], mà lại tin lời dạy của Phật Đà, trả lại vật chuộc tội để giúp thêm món cúng của tăng sĩ, Ưu Bà Tắc’).”
- Tức Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà La Ni (聖無量壽決定光明王陀羅尼), được tìm thấy trong Phật Thuyết Đại Thừa Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai Đà La Ni Kinh (佛說大乘聖無量壽決定光明王如來陀羅尼經, Taishō Vol. 19, No. 937), thường được trì tụng trong Thập Chú thuộc thời Công Phu Khuya của Thiền môn. Nội dung của thần chú nầy là: “Án, nã ma ba cát ngõa đế, a ba ra mật đạp, a ưu rị a nạp, tô tất nễ, thật chấp đạp, điệp tả ra tể dã, đát tha ca đạt dã, a ra ha đế, tam dược tam bất đạt dã, đát nễ dã tháp. Án, tát rị ba, tang tư cát rị, bát rị thuật đạp, đạt ra mã đế, ca ca nại, tang mã ngột ca đế, ta ba ngõa, tỷ thuật đế, mã hát nại dã, bát rị ngõa rị, ta hát (唵、捺摩巴葛瓦帝、阿巴囉密沓、阿優哩阿納、蘇必你、實執沓、牒左囉宰也、怛塔哿達也、阿囉訶帝、 三藥三不達也、怛你也塔、唵、薩哩巴、桑斯葛哩、叭哩述沓、達囉馬帝、哿哿捺、桑馬兀哿帝、莎巴瓦、比述帝、馬喝捺也、叭哩瓦哩、娑喝).”